Khoa Giải phẫu bệnh

1. Lịch sử phát triển:

Khoa Giải phẫu bệnh – Pháp y được thành lập từ tháng 6 năm 1971, năm 2009 được tách thành Khoa Giải phẫu bệnh và Phòng Giám định Pháp y.

2. Lãnh đạo

Lãnh đạo tiền nhiệm:

– Phạm Quang Hiếu (1971 – 1986)

– Hoàng Ngọc Cư (1986 – 2001)

– Nguyễn Thanh Hải (2002 – 2011)

Lãnh đạo hiện nay:

3.Tổ chức nhân sự

Tổng số: 08 nhân viên. Trong đó:

Bác sỹ: 3 (01Thạc sỹ, 01 bác sỹ CK I, 01 bác sỹ CKĐH)

Điều dưỡng: 3 (01 cao đẳng điều dưỡng, 02 điều dưỡng trung cấp).

Khác: 02

Tập thể khoa Giải phẫu bệnh

4. Chức năng nhiệm vụ

Khoa Giải phẫu bệnh là cơ sở làm các xét nghiệm vi thể (Tế bào bệnh học, Mô bệnh học) và Giải phẫu bệnh đại thể; thực hiện một số đề tài khoa học và tham gia các phong trào văn hóa văn nghệ và thể dục thể thao.

4.1. Giải phẫu bệnh vi thể:

*  Tế bào bệnh học:

–  Xét nghiệm và chẩn đoán tế bào bệnh học qua chọc hút bằng kim nhỏ (FNA: Fine needle aspiration), các khối u, hạch, các tổn thương nông hoặc sâu trên da, xương, một số hốc tự nhiên,…

– Xét nghiệm và chẩn đoán tế bào dịch các màng, các khoang tự nhiên (Dịch màng phổi, dịch màng bụng, dịch màng tim, dịch não tủy, dịch khớp,…).

– Xét nghiệm và chẩn đoán tế bào học bong bằng phương pháp nhuộm Papanicolaou (PAP): bệnh phẩm là tế bào âm đạo, cổ tử cung.

* Mô bệnh học:

– Xét nghiệm và chẩn đoán mô bệnh học bằng phương pháp nhuộm Hematoxylin Eosin (HE), Periodic acid Schiff (PAS): Tất cả các bệnh phẩm sau khi phẫu thuật, tiểu phẫu, các bệnh phẩm sinh thiết thông qua các dụng cụ chuyên biệt từ các khoa phòng giử đến sẽ được cắt lọc, lấy mẫu và xử lý qua quá trình cố định tế bào và cấu trúc mô sau đó cắt mỏng, nhuộm màu và quan sát đọc dưới kính hiển vi điện tử;

–  Xét nghiệm và chẩn đoán mô bệnh học trong lúc mổ (Sinh thiết tức thì – Cắt lạnh): là phương pháp được chẩn đoán trong khi mổ, (có kết quả sau khi nhận bệnh phẩm 10-20 phút) chủ yếu để xác chẩn có tổn thương ung thư hay không, loại nào?… để có cách điều trị thích hợp ( cắt bỏ hạn chế, bảo tồn hay rộng rãi, triệt để, nạo vét hạch…) hay phẫu thuật vừa để xác chẩn lẫn định típ bệnh sâu hơn góp phần quyết định phương pháp điều trị và tiên lượng bệnh.

– Xét nghiệm hóa mô miễn dịch: Giúp xác định nguồn gốc các khối u kém biệt hóa; các típ mô học của mô ung thư; một số yếu tố liên quan đến điều trị nội tiết (estrogen, progesteron); một số yếu tố tiên lượng: Her-2/neu, p53, Ki-67 giúp điều trị và tiên lượng; phân biệt u lành và ác tính (vai trò này rất hạn chế): ví dụ trong trường hợp phân biệt hạch viêm quá sản với u lympho thể nang thì dùng kháng thể Bcl-2, CD5, CD20.

–  Xét nghiệm khối tế bào (Cell – Block): Bệnh phẩm là dịch các khoang hoặc các nang của cơ thể được gửi từ các bệnh phòng đến. Nhằm tập trung các tế bào đơn lẻ, rải rác trong dịch thành một khối có thể đưa vào chuyển, đúc, cắt nhuộm giống qui trình mô học thường qui, tăng độ nhạy trong chẩn đoán, bệnh phẩm sau đó có thể lưu giữ như các bệnh phẩm mô thông thường. Ngoài ra có thể áp dụng các phương pháp nhuộm khác trên khối tế bào như: Hóa mô miễn dịch, miễn dịch huỳnh quanh, gen…

4.2. Giải phẫu bệnh đại  thể:

Vận chuyển tử thi kịp thời khi có tử vong. Làm các thủ tục khâm liệm vệ sinh khi có yêu cầu của bệnh viện, đề nghị từ phía gia đình người bệnh và trong các trường hợp tử vong vô thừa nhận.

5. Ứng dụng khoa học kỹ thuật

– Chẩn đoán tế bào, mô bệnh học

– Chọc hút, nhuộm, chẩn đoán tế bào học

– Chuyển đúc, cắt, nhuộm, chẩn đoán mô bệnh học.

Một số hoạt động khác (NCKH):

– ĐT NCKH : “Đối chiếu lâm sàng – mô bệnh học tổn thương viêm ruột thừa sau phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình trong các năm 2007 – 2008” (Th.S Bs Phạm Tiến Lực)

5. Định hướng phát triển

– Khoa Giải phẫu bệnh cũng như các khoa khác trong bệnh viện ngày càng phát triển và mở rộng các lĩnh vực hoạt động để đáp ứng tốt với vai trò của một khoa giúp các khoa lâm sàng chẩn đoán chính xác mang lại hiệu quả trong điều trị , nâng cao chất lượng và thương hiệu cho khoa cũng như cho bệnh viện;

– Nâng cao trình độ bác sỹ theo hướng chuyên sâu như: Tiến sỹ, CKII, thạc sỹ, CKI

– Tiếp tục nâng cao chất lượng tiêu bản và chất lượng chẩn đoán, tăng cường hội chẩn với tuyến trung ương trong chẩn đoán bệnh;

– Sử dụng, bảo quản tốt các máy móc, tiết kiệm trong việc sử dụng hóa chất,vật tư tiêu hao.

6. Kết quả đạt được

– Dưới sự lãnh đạo của tập thể lãnh đạo bệnh viện và sự hỗ trợ của các khoa phòng trong bệnh viện, cùng với sự nỗ lực của toàn bộ nhân viên trong khoa, Khoa Giải phẫu bệnh luôn hoàn thành vượt chỉ tiêu kế hoạch được giao.

– Tập thể khoa được Sở Y tế tặng giấy khen các năm: 2005, 2008, 2011

– Các cá nhân được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sơ, sáng kiến cấp tỉnh,…

– Từ năm 2006 đến nay, khoa có 2 đề tài cấp ngành, và 03 đề tài cấp cơ sở